Wednesday, November 30, 2011

Thái Thanh Tiếng Hát Dâng Hiến Tâm Tình



Sau khi gặp lại Thái Thanh lần đầu vào năm 1992 tại rạp Maubert Mutualité ở Paris, tác giả có những nhận xét như sau:
Thái Thanh suốt 15 năm hành nghề ca hát theo kiểu gạo chợ nuớc sông ở quê nhà, dưới chánh thể Cộng Sản. Cô mang tiếng hát ra hải ngọai bằng sự tự tin thấy rõ, dù làn hơi tiếng hát đã hao hụt chút ít, chuỗi ngân không còn nhỏ mức và đều đặn, nhưng âm sắc vẫn còn lảnh lót, vẫn còn loé những ngân vang sáng rỡ.

Lúc hát cô vẫn hăng hái quăng mình trọn vẹn vào phút giây đùa bỡn với tiết điệu và âm thanh. Dù chuỗi ngân có thô rít, nhưng cô vẫn không nao núng, vẫn kéo dài làn hơi để cho làn hơi gợn sóng.

Khi hát tới chổ khá cao hay khi xuống chổ khá thấp lọt ra khỏi âm vực của tiếng hát mình, cô vẫn cứ đưa tiếng hát của mình lướt tới, vẫn quả cảm chuyển giọng, tới đâu thì tới, không sợ tiếng hát gãy vụn hoặc vỡ bể hay sa lầy. Nhìn và lắng nghe cô hát, tôi ngậm ngùi trước sự thành khẩn thiết tha của cô trong lúc cô dâng hiến tiếng hát của mình cho khán giả và nhất là cho lý tưởng của mình mà không cần nhìn lại tuổi đời đang đè nặng trên lưng trên vai mình, không quan tâm cái sinh lực trong tiếng hát của mình đã bị thời gian làm vơi cạn đi ít nhiều.

Tuy nhiên, hôm đó giọng hát của cô chỉ hơi rạn nứt chút ít ở một vài chỗ, phải tinh lắm mới nhận ra. Nhưng mà, đó vẫn còn là một giọng hát đẹp gợi nên vết da rạn quý giá trên nền men bóng của chiếc độc bình.
Hôm đó, cô hát bài "Dòng Sông Xanh" của Johan Strauss, vẫn hứng khởi ngân bằng nguyên âm và vẫn nhún nhảy theo nhịp điệu Valse xôn xao.

Sau đó, Thái Thanh xuất hiện tại Washington D.C và tôi đã nghe vài lời bình phẫm ở lối trình diễn điệu đà và sự diễn tả quá mức của cô.
Tại nơi đây, khi bước ra sân khấu, cô mặc áo chóang lộn như y quan của gánh Hồ Quàng, lại khóac áo chòang như người dơi; lúc hát cô lắc lư hơi nhiều, rồi nhảy loi choi, vung vãi quá nhiều nhiệt tình, nhiều điệu bay bướm thừa thãi. Song dù gì đi nữa, cô vẫn ghi vào ấn tượng mọi người một nghệ sĩ hát bằng tâm tình dâng hiến, bằng trái tim mẫn cảm, bằng cái đẹp muôn màu muôn vẻ của tâm hồn.

Thái Thanh hát hay, điều đó dĩ nhiên rồi, ai mà dám cãi được. Nhưng Thái Thanh còn hát giỏi nữa , bởi vì cô có kỹ thuật hát khá tinh vi.
Nhưng tiếc thay, khi hát ở những chổ hơi cao, cô thường nhốt sâu tiếng hát trong cuống họng nên tiếng hát thanh thì có thanh, nhưng chua ơi là chua.
Từ Thái Thanh lúc đó cô trở thành Thái Chanh một cách ngon ơ. Đây là nhược điểm của cô. Bởi tự luyện tập giọng hát theo lối chầu văn, hát chèo với cách ngoai mồm bẻ miệng nên cô không nắm bắt cách luyện tập theo phương pháp chân truyền của ca sĩ Tây Phương.
Từ lúc đầu, cô không tập rống khi lên cao để tiếng hát được dàn rộng, không mất âm lượng và có thể giữ được âm sắc ngọt ngào. Trong băng nhạc " Thái Thanh : Tiếng Hát Vượt Thời Gian", cô có hát bài Sérénade của Schubert, từ đầu tới cuối, cô xài tòan giọng óc, chua tới rùng rợn luôn.

Nhưng khi hát ở những chổ không quá cao hoặc không quá thấp, tiếng hát cô đẹp tuyệt hẳn lên, như khối ngọc giữ màu trong vẻ sáng, không tỳ vết, không lỗi lầm. Ở những nốt nhạc hơi trầm, tiếng cô đầy và ấm hẵn lên, thập phần quyến rũ.

Qua tiếng hát Thái Thanh, người nghe có cảm tưởng đến ngắm một lạch nước trong chảy thao thao vào một vùng thôn dã thuộc miền trung du của quê Bắc vào thuở tiền chiến.
Nơi đó, có những hình ảnh tiêu biểu như lũy tre xanh rậm bọc quanh làng làm cho khung cảnh ấm cúng và thân mật. Có mảnh ao làng lênh láng nước trong veo, ngày ngày có những cô gái quê đến gánh nước hoặc rửa rau và vo gạo.
Có ngôi đình làng dành cho các cuộc tế lễ thành hòang.
Có ngôi chùa, am mây, miếu mạo...dành cho những khách hành hương. Lại còn thêm bóng đa, bóng chuối, bóng na, những cây cau, những nương khoai..làm cho khung cảnh thêm xanh mát, thêm bóng râm êm ả trong nắng trưa.

Thái Thanh hát những ca khúc âm hưởng dân ca miền Bắc như "Tình Ca", "Tình Nghèo", "Tình Tự Tin", Nụ Tầm Xuân", "Tình Hòai Hương" và "Chú Cuội" của Phạm Duy, "Kiếp Cuội Già" và "Khúc Giao Duyên" của Phạm Đình Chương, "Tình Quê Hương" của Đan Thọ, "Các Anh Đi", "Nhớ Bến Đà Giang" của Văn Phụng đều truyền cảm, đều gợi cái trong trẻo êm đềm của lạch nước mùa xuân, cái tịch mạc thật thơ mộng của cảnh thôn dã nơi quê Bắc.

Vì hát theo lối nhấn từng chữ như lối chầu văn nên cô hát những bài nhạc ngọai quốc như "Célèbre Valse" của Brahms, "Sérénade" của Schubert, "Rêveries" của Robert Schumann đã được đổi thành lời Việt thì lại không sành điệu bằng Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà, Tuyết Hằng, Mai Hương và Quỳnh Giao.

Riêng tôi, tôi chưa thấy ca sĩ nào diễn tả trọn vẹn ý tình qua các ca khúc của Phạm Đình Chương và nhất là của Phạm Duy bằng Thái Thanh.
Ở bài "Tình Ca", khi hát tới câu hát "Tôi yêu tiếng xa mờ", giọng cô sắc vút lên như xuyên vào mối cảm hòai người nghe bằng một luồng gió mạnh, reo xao xuyến trong nội giới chúng ta rất lâu.

nấc làm người nghe bàng hòang dao động cả tâm hồn; chưa có ca sĩ nào diễn tả tuyệt vời cảm xúc như cô ở tiếng đó. Hình như trời sinh Phạm Duy ra để sọan ca khúc cho Thái Thanh hát.

Trong phút hiển linh của thần trí sáng tạo, ông viết những dòng nhạc truyền cảm tột độ mà chỉ có Thái Thanh diễn tả mới đi đến chổ cùng tận của ý tình. Cho nên khi hát bài "Bà Mẹ Gio Linh", Thái Thanh cất tiếng "Hò ơi ới ơi hò", tiếng hò cô ở chổ đó như banh gan xé ruột người nghe, như khơi dậy một vết thương rướm máu của họ.
Tiếng hò sao mà thảm thiết một cách thần tình, làm sao có ai hò vượt qua cô dẫu đương sự có ăn một trăm, một ngàn cót thóc đi nữa.
Ngoài ra, bản "Tình Không Biên Giới" của Văn Lương, "Mấy Dặm Sơn Khê" của Nguyễn Văn Đông, "Sao Đêm" của Lê Trọng Nguyễn, "Tiếng Thời Gian" và "Trở Về Dĩ Vãng" của Lâm Tuyền đều được cô trình bày bằng một tình cãm vừa phải, nhưng rất truyền cảm, rất nghệ thuật.

Nghe Thái Thanh hát các ca khúc âm hưởng dân ca miền Bắc, chúng ta có cảm tưởng được ngắm những bức tranh mộc bản hoặc những bức tranh dân gian bày bán ở chợ quê trong dịp Tết.

Những bức tranh dân gian ấy tô màu loè loẹt và suồng sã, nhưng hàm nhuận ý tình thật mộc mạc, thật thân thương: đỏ như ruột dưa hấu, xanh như mực học trò, vàng như nghệ, lục biếc như đọt chuối hay như lá mạ, tím như nước cốt trái mồng tơi...
Qua tiếng hát Thái Thanh, chúng ta có thể mường tượng đến tiếng sáo diều vi vút vào buổi chiều quê, khi mà ánh tà dương không còn trải trên mặt ao đầm, và sương mỏng bắt đầu theo bóng chiều lan khắp đó đây. Lúc đó, tàn cây, khóm chuối biến dần thành những khối bóng đậm đen như tô bằng mực tàu trong thứ ánh sáng lu lít mù mờ vào lúc chạng vạng. Tiếng sáo mỏng và thanh cứ vi vút từ đầu bửa cơm chiều dưới ánh đèn dầu cho tới khi trăng lên rọi lóng lánh mặt ao đầm mà vẫn chưa tắt.

Thái Thanh có giọng hát thiên phú quý báu như thế, nhưng theo tin đồn thì cô chẳng thận trọng giữ gìn. Cô không kiêng khem trong việc ăn uống. Hễ gặp trái chua là cô ăn mê tơi, ăn ngấu nghiến. Gặp trái chát nhu sung sung để ăn cặp với bún riêu, như mít đẹt nổi mụn cám vàng cô liền cất giấu ngay trong bụng là chỗ không trời không đất... cho gọn ! (NGHE TẢ KHÚC NÀY SAO GIỐNG ĐÔNG CUNG QUÁ CHỜI VẦY NÈ )

Hồi ở bên quê nhà, Kiều Chinh và Thái Thanh là hai nữ nghệ sĩ trình diễn thích giao du với các nghệ sĩ bên sáng tác nổi tiếng trí thức.
Qua ông anh nhạc sĩ Phạm Đình Chương của mình, Thái Thanh ưa giao du với nhóm Cái Bang trong đó có kịch tác gia Vũ Khắc Khoan, nhà văn Mai Thảo, kỷ giả Lô- Răng Phan Lạc Phúc, nhà văn Thanh Nam, nhà văn Thanh Tâm Tuyền...

Lại thêm có ca sĩ Anh Ngọc, anh bạn đồng nghiệp của cô. Giờ đây Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Phạm Đình Chương và Thanh Nam đã từ trần. Thanh Tâm Tuyền định cư trên vùng vạn hồ thuộc tiểu bang Minnesota. Còn Phan Lạc Phúc ở tận bên Úc. Trong chuổi ngày tàn bóng xế, cô cùng nghệ sĩ dương cầm Nghiêm Phú Phi mở lớp luyện ca.

Từ năm 1995, làn hơi trong tiếng hát Thái Thanh giảm sút quá nhiều. Cô không còn ngân nga được nữa. Nhưng từ cái gốc của cô, có hai chồi măng mới mọc ra, trong thời gian chẳng bao lâu mà trở thành hai cây trúc tương phi yểu điệu xinh tươi.
Mỗi khi lớp lớp sóng nhạc hiện thành cơn gió lướt qua, trúc reo lao xao những tiếng hát làm rung cảm khách mộ điệu khắp bốn phương trời hải ngoại. Đó là nữ ca sĩ Ý Lan và nữ ca sĩ Quỳnh Hương, hai ái nữ của Thái Thanh và minh tinh điện ảnh Lê Quỳnh.





Sơn Ca Tiếng Hát Của Tháng Giêng Cỏ Non



Vào năm 1973, một tờ báo nào đó có cho biết ông bầu Hoàng Thi Thơ của vũ trường Maxim's vừa lăng xê một ngôi sao ca nhạc mới để tranh tài với hai nữ ca sĩ Thảo Ly và Phương Hồng Hạnh. Và trong bài viết, có cho biết Sơn Ca có giọng hát điêu luyện vì cô đã từng thọ giáo nữ ca sĩ Kim Tước.

Thảo Ly xuất thân từ lò tạp lục Tùng Lâm. Phương Hồng Hạnh xuất thân từ lò Nguyễn Đức vốn chỉ là hai tiếng hát học trò. Vậy mà một khi được Hoàng Thi Thơ và cùng ê kíp của ông chăm sóc, tiếng hát họ trưởng thành và tiến bộ mau chóng. Họ ngân nga rựa ràng, họ dàn trải làn hơi khá thành thạo.

Hoàng Thi Thơ kéo ca sĩ Buì Thiện về Maxim's, tìm cho anh một bạn đồng diễn để cả hai nương theo sóng nhạc "Rước Tình Về Với Quê Hương".
Tiết mục song ca này ăn khách kinh khủng, chẳng những bài hát được phổ thông trong quần chúng nhanh chóng không thể tưởng tượng, mà lại còn thắp sáng thêm hào quang cho danh vọng Bùi Thiện và đưa Sơn Ca lên tuyệt đỉnh vinh quang trong ca trường nhạc giới.
Sơn Ca trong một sớm một chiều làm rung rinh ngôi vị của những giọng hát ăn khách như Phương Dung, Hoàng Oanh, Thanh Tuyền, Hương Lan, Phương Hồng Quế
Tiếng hát của Sơn Ca trong và ngọt nhưng không quá ngọt như tiếng Minh Diệu để khỏi mất đi cái âm sắc gợi cảm. Tuy là giọng mái, nhưng nó không quá mỏng như sương, khi cất lên cao rất thoải mái, khi hát ở chổ ngang ngang thì véo von lăng líu như tiếng chim sơn ca trên cánh đồng mùa xuân miền Bắc.

Khán thính giả khi nghe cô hát thường bị chi phối bởi cái lảnh lót của tiếng hát cô và họ không kịp nhận định rằng bài hát do cô trình bày như "Cô Thắm Về Làng" chẳng hạn, không đủ phẩm chất bởi nó nghèo nàn giai điệu và không được tinh tế về phương diện cấu trúc.

Trong một băng nhạc nào đó, Sơn Ca cao hứng hát bài "Dòng Sông Xanh" của Johann Strauss. Chắc cô nghĩ là tiếng hát của mình cao vút có thể bay lên tới tầng trời Đại La.
Đây là một cuộc phiêu lưu của cô. Giọng cô đâu phải dành để hát nhạc bán cổ điển Tây phương. Cô không biết ngân nga từ đầu cuộc. Ra hải ngoại, dù có tập thử cách ngân nga, như ở đoạn ngân bằng nguyên âm trong bài hát, cô như phụng hoàng gảy cánh, như cá mắc cạn, như trâu bị sa lầy.

CHẾ LINH : Tiếng Hát khua động lòng cổ tháp trên đất Hời.


Chế Linh có dáng dấp thanh cảnh và cân đối. Khuôn mặt ông chỉ bảnh trai chớ không thể gọi là đẹp trai được. Nhưng trông ông nồng mặn, có cái duyên dáng nhuận nhị thâm trầm. Da ông tuy đen nhưng ánh mắt nụ cười rạng rỡ. Cặp mắt ông như loé tia nắng reo vui, cái nhìn ông lẳn, liếc đong đưa cô bán dưa tê bại, liếc qua lại cô bán cải ngất ngây.
Nụ cười ông tếu và tươi sao mà tươi hơn hớn. Đứng giữa một đám người, ông nổi bật lên nhờ mái tóc, nhờ vẻ nồng mặn và đậm đà thập phần quyến rũ ở màu da và nhờ cái vẻ ranh mãnh linh họat kia.

Nếu màu da sậm kia đuợc hồng huyết cầu thắp ánh phản chiếu của tấm lụa đào dưới nắng thì nó sẽ có màu đồng đỏ, tức là màu da lý tưởng của người Âu người Mỹ. Nhưng Chế Linh thì khó thể tìm được ánh hồng cho nước da ngăm đen của mình bởi vì anh là nghệ sĩ lấy đêm làm ngày.Lại nữa, các người đẹp ái mộ ông cứ đeo dính ông, tát vơi sinh lực của ông, cho nên da ông tái mét kinh niên, hồng huyết cầu không đủ dân số để thắp ánh ráng chiều rực rỡ lên màu ngăm đen đó.

Giọng hát của Chế Linh sở dĩ mê hoặc được thính giả là vì ông có thần trí sáng tạo mãnh liệt. Ông biết tìm cái độc đáo cho giọng hát mình. Tự bản chất, tiếng hát đó khoẻ khoắn trơn tru. Nó êm ái như mật ngọt rót vào ly, như bóng con thiên nga luớt qua mặt ao đầm.

Nhưng ông có tham vọng, ông không chấp nhận những gì Trời ban cho ông trong tiếng hát. Ông phải khuấy động nó bằng cách kéo tỉ tê ở chổ này, rên thống thiết ở chổ kia, quẫy lộn bằng cách uốn giọng ở chổ khác. Khi lên cao, ông không giát mỏng giọng hát mà ông gào rống quằn quại như bị một vết thương đau nhức hành hạ ông dở sống dở chết. Và ông biết tét giọng cho mỏng ở chổ ngang ngang, đã vậy ông còn hát lơ lớ để giọng hát đượm một chút rã rời cực kỳ duyên dáng.

Khi lên cao giọng hát Chế Linh như muốn khua động vào lòng cổ tháp trên đất Hời trong đó có tỉnh Phan Rang. Nơi đó có muôn vạn hồn ma dân tộc Chiêm Thành còn u uất trong cảnh quốc phá gia vong mà muôn đời họ không thể báo phục, không thể giành lại đất tổ tiên xưa. Giọng hát khi tét ở chổ ngang ngang có một chút gì nũng nịu để làm bao con tim phụ nữ phải mềm lòng như trái dưa gang chín và phải lỏng dạ như sáp ong bị hơ lửa nóng.

Chế Linh có làn hơi dài và mướt. Vậy mà ông không chịu tập ngân nga. Khi hát tới cuối câu, ông kéo dài làn hơi theo trường độ nốt nhạc, nếu làn hơi có gợn sóng có đổ hột thì tốt, còn nếu nó phẳng lì xuôi theo một vạch ngang thì ông chẳng nao núng.
Thật ra, ông chẳng quan tâm đến vấn đề ngân nga vì ông quan niệm rằng đó là vấn đề then chốt với các ca sĩ khác, nhưng đối với ông chỉ là chuyện phụ thuộc, chuyện nhỏ nhoi không đáng kể. Quần chúng thích ông đâu phải ở nghệ thuật ngân nga mà ở những điểm độc đáo do ông sáng chế ra.

Khách sành điệu khó tánh cho rằng Chế Linh ưa chơi trò vọc nước giỡn trăng khi ông cất tiếng hát, làm cho tiếng hát phá thể một cách táo tợn. Nhưng đa số quần chúng thì lại nghĩ khác: nếu vứt bỏ những cái fantaisies thuần chất sáng tạo kia thì giọng ông trụi lũi như con kim ngư bị cắt hết đuôi và vi kỳ tha thướt đi, như con chim công bị tướt hết lông đuôi lộng lẫy điểm mặt nguyệt để nó hết xoè cánh quạt. Chính những cái tỉ tê sướt mướt, gào rống, tét giọng đó làm nên giọng hát đẹp theo kiểu quái chiêu của Chế Linh, đưa ông lên lâu đài vinh quang cao chót vót.

Không hiểu tại sao con người nhanh nhẹn và sinh động như Chế Linh mỗi khi cất tiếng hát thì giọng ông não nuột gấp đôi gấp ba ý tình của bản nhạc. Bài hát "Những Bước Chân Âm Thầm" của Y Vân đã có sẵn âm điệu buồn cô đơn rồi. Nhưng khi nó được Chế Linh diễn tả, nổi buồn cô đơn đó đậm hẵn lên, rã rời như những bước thất thểu của oan hồn uổng tử. Phải chăng trong đáy thẳm của tiềm thức ông, nổi hờn vong quốc vẫn chưa nguôi?

Chế Linh sáng tác nhạc lấy tên Tú Nhi trước hết để cho chính ông hát. Các nhạc phẫm đó có nhiều chổ để cho ông tét giọng, để ông tỉ tê, để ông kéo dài nhừa nhựa như kéo dài nổi cô đơn và nổi tuyệt vọng khủng khiếp của dân tộc mình. Vậy mà nhạc của ông lại phổ biến trong quần chúng.

Biết bao người hát chúng theo anh. Song đó là mồi lửa đốt cánh đồng rạ khô, cả cánh đồng cháy rực trong một thời gian ngắn, nhưng tấm lòng khán thính giả đối với ông vẫn là nền đất khô dưới chân rạ để cho tiếng hát ông cắm vào đó những bó mạ mới, để trổ bông lúa mới.



Duy Quang Tiếng Ca Man Mác Gió Sơ Thu

Nhạc phẫm "Thà Như Giọt Mưa" của Phạm Duy (phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên) đưa tên tuổi Duy Quang vào khối đông quần chúng lẫn vào giới sành điệu chọn lọc.

Nhưng bản ấy cũng nhờ Duy Quang mà được quản bá nhanh chóng.
Ở bước đầu vào làng băng nhạc, Duy Quang làm cho những ca khúc của Phạm Duy nổi bật như: "Bình Ca", "Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ", "Em Hiền Như Ma Soeur".
Ngoài ra, anh hát bài "Còn Chút Gì Để Nhớ" (phổ thơ của Vũ Hữu Định) thì chắc chẳng ai có thể qua mặt anh.

Giọng hát của Duy Quang là giọng hát đẹp, chứ không phải là giọng hát điêu luyện. Những bài hát mà ông bố Phạm Duy soạn cho anh hát đều là những bài sang trọng nhưng dễ hát, rất vừa với âm vực của giọng hát anh.

Về sau, khi ra hải ngoại, Duy Quang hát nhiều bài tạp nhạp không có chút giá trị nghệ thuật nào.

Dù gì là dù, giọng hát Duy Quang lọt ra khỏi quỷ đạo của những giọng đi sâu vào đám đông chuyên hát những bản bolero ca tụng lính tráng.

Đó là giọng một hoàng tử đa tình hát gửi cho một mỹ nữ, một giai nhân thuộc dòng quý tộc lâu đời ở chốn gác tía lầu son. Một giọng hát buồn man mác như trời đất vào tiết sơ thu bên phương trời Âu.

Lúc đó ngọn kim phong từ phương Tây thổi tới để làm rụng vài ba lá ngô đồng, để làm vàng vọt ngọn cỏ bồ và nhánh lệ liễu. Tiết sơ thu chỉ lành lạnh vào buổi chiều, cái lạnh cũng chỉ gây gây da thịt mà thôi.

Nhưng cái buồn vào thu tuy man mác mà vô cùng thấm thía đối với những kẻ xa quê hương, nhớ giấc mộng ngày xanh còn thấp thoáng trên từng trang hồi ký hay trên từng trang nhật ký.

Ngọn kim phong se lạnh reo lao xao trong vòm lá ngô đồng mờ tối, trên ngọn bạch dương cắt nép cổ tháp trên nền trời mờ ảo ánh trăng.

Chính lúc đó, bạn mở máy cho chạy có thâu tiếng hát Duy Quang. Bạn sẽ thấy giọng anh buồn nhè nhẹ, buồn êm ái như một câu ru nào đó trong đáy thẳm của thời gian.

Bạn sẽ thấy tiếng hát ấy làm sống lại lời âu yếm của người đẹp năm xưa đã từng thỏ thẻ bên gối bạn, lời âu yếm ấy sao mà buồn dịu dàng và bát ngát như một mối cảm hoài về bóng hạnh phúc đã mất.



Phương Dung Tiếng Hát Gọi Nhạn Trong Sương



Vào những năm 1963, 1964, ca khúc "Những Đồi Hoa Sim" của Dzũng Chinh được nổi tiếng như cồn là nhờ giọng hát của Phương Dung, cựu nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng, sinh quán ở Gò Công. Nhưng nói cho cùng, củng nhờ bản này mà trong một sớm một chiều, Phương Dung trở thành một ngôi sao ca nhạc sáng lộng lẫy như ngôi sao của Lệ Thanh, Thanh Thuý, Minh Hiếu và Duy Khánh trước đó vài năm.

Phương Dung còn có bài "Nổi Buồn Gác Trọ" để mê hoặc khán thính giả nữa. Ngoài ra, những bản khác đã hiện trước khi cô trở thành ca sĩ khá lâu như "Tình Bắc Duyên Nam" của Xuân Tiên, "Tống Biệt" của Võ Đức Thu cũng được cô dùng để ru hồn khán thính giả trên sân khấu Đại Nhạc Hội.

Tiếng hát của Phương Dung vang lộng, lảnh lót và dẻo mê dẻo mệt. Cách diễn tả của cô không có màu mè riêu cua. Tiếng hát sung mãn và tươi xanh như cỏ tranh, như những loại cây mọc mé sông rạch miền Tiền Giang lẫn miền Hậu Giang như cây ô rô, cây bình bát, cây muối, cây dứa gai...

Cô được mệnh danh là "Con Nhạn Trắng Gò Công", nhưng tiếng cô chỉ lảnh lót như tiếng nhạn, chứ không quá buồn như tiếng nhạn. Nhưng cũng như tiếng nhạn, nó gợi một chút gì nuối tiếc cái bóng hạnh phúc đã trôi qua. Nhạn như tiếc mùa xuân tươi mát cỏ cây, mủa hè đẹp nắng và giờ đây phải đối diện với mùa thu ảm đạm sương mù và sẽ kéo theo mùa đông lạnh lẽo.
Còn Phương Dung khi hát, tiếng hát cô như phảng phất một chút u hoài dìu dịu, một chút luyến tiếc bảng lảng gần như mơ hồ về mảnh đất quê hương ở Gò Công của cô và thời cắp sách của cô ở trường trung học Nguyễn Bá Tòng.

Ngoài âm sắc ngời sáng và lộng lẫy, giọng hát Phương Dung còn ngọt lịm làm chúng ta nghĩ đến vị ngọt của mãng cầu biển và của đu đủ xiêm. Nó còn mặn mà tình ý làm ta nghĩ đến hai món mắm bất hủ: tôm chà và mắm tôm chua, đặc sản bất hủ của Gò Công.

Nhưng dù bản chất tiếng hát của Phương Dung là châu ngọc long lanh, là gương báu rạng ngời, nhưng Phương Dung không mấy chú trọng đến vấn đề trau giồi nó bằng kỷ thuật.
Cô dàn trải làn hơi không đều. Ở những chổ ngang ngang cô dồn hơi cho tiếng vang lộng, gây một dư âm sang sảng; nhưng đến khi lên cao hay xuống trầm, tiếng hát không lảnh lót khi lên cao, và trở nên hơi mỏng hơi và hơi nghẹn ngào khi xuống trầm. Đây là một giọng hát lấy cái véo von của tiếng hót chim ý nhi, lấy cái xao động của cành lá thuỳ dương reo trong gió để làm đẹp, làm cái quyến rũ cho giọng hát vốn không được luyện tập theo phương pháp chân truyền của mình.

Nghe Phương Dung hát, chúng ta còn nghĩ đến thứ gỗ cẩm lai tuy được bào chuốc láng mặt nhưng chưa được đánh lớp vẹc ni cho mặt bóng ngời như gương soi. Chúng ta còn nghĩ đến đá hoa cương chưa giồi mặt sau khi làm thạch bàn. Và nó cũng như rượu nếp than, tương, chao, nem, tré, xôi rượu chưa dậy men sung mãn để làm món ăn thức uống ngon miệng cho thực khách.

Phương Dung không biết ngân nga. Ở tiếng chót mỗi câu, cô chỉ nắn nót một vài hột ríu rít bời rời ; đó không thể gọi là chuỗi ngân được.

Có nhiều chỗ cô không thèm ngân nga, cũng không thèm kéo dài làn hơi. Vì sao? Bở cô phung phí làn hơi ở những chổ dễ hát để tiếng hát đầy âm vang, sáng lồng lộng như vòm trời tràn ngập ánh trăng rằm; đến khi lên hơi cao cần có làn hơi phong phú để kéo dài trường độ nốt nhạc ở tiếng cuối câu thì cô hụt hơi, thế là cô bỏ cuộc một cách tỉnh bơ, một cách gọn gàng, không thèm ngân nga làm gì cho cực thân.

Nhưng mà nghĩ cho cùng, nếu Phương Dung hát theo nề nếp chân truyền, có thể ngân nga dễ dàng như Mộc Lan, Châu Hà và Kim Tước thì chưa chắc cô đã được quần chúng đón nhận một cách say sưa nồng nhiệt như thế. Đa số quần chúng ghét ai hát mà bày chuyện ngân nga mà họ cho là rên i ỉ.

Tiếng hát của Phương Dung có thể đáp ứng cái sở thích quá đơn giản ấy. Lại nữa, tiếng hát ấy đã đẹp sẵn rồi, cô không cần trau chuốt giồi mài làm chi cho mất công. Đó như là rau cải diếp, rau húng, rau quế, dưa leo chỉ dành để cho thực khách ăn sống, để cho họ cảm nhận được cái tươi mát thơm tho của chúng.

Tiếng hát của Phương Dung là lọai rau ăn sống. Nó tươi rói, tràn trề sinh lực. Nó mộc mạc thân ái với khiếu thưởng ngọan đơn giản và dễ dãi của một số khán thính giả đông đảo hùng hậu.
Phương Dung diễn tả nổi buồn trong giọng hát củng chừng mực thôi, không rên rỉ. Tiếng của cô ở chổ ngang ngang thì ngọt mà không mềm. Nó dẻo dai như dây mây dây chọai trong các cánh rừng tràm miệt U Minh.







Lê Uyên & Phương: / Ngày mai, ta không còn thấy nhau.



Là tên ghép của cặp song ca vợ chồng Lê Uyên và Phương. Bắt đầu sáng tác và trình diễn nhạc của mình khi còn ở Đà Lạt, Lê Uyên Phương vào Sài Gòn cộng tác với Trường Kỳ trong chương trình Hippy Agogo và được khán thính hưởng ứng nồng nhiệt. Nữ ca sĩ Lê Uyên tên thật là Lâm Phúc Anh.
Vợ chồng Lê Uyên và Phương định cư tại Hoa Kỳ, ông chồng qua đời ngày 29 tháng 6 năm 1999.
Nhớ Đà Lạt, nhớ đôi nghệ sĩ tài hoa và những tình khúc bất hủ của họ....
Văn Đà Lạt 11 xin trân trọng giới thiệu bài viết dưới đây.
Những năm đầu của thập kỷ 70, Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. Trong đạn bom và máu lửa, phong trào phản chiến của học sinh, sinh viên diễn ra ngày càng rầm rộ. Còn nhớ những đêm văn nghệ xuống đường tại Sài Gòn, bên cạnh những ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn, sự xuất hiện cặp song ca Lê Uyên – Phương như một hiện tượng, họ đã thổi một luồng gió mới vào nền tân nhạc thời bấy giờ. Với giai điệu nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc triết lý, Lê Uyên – Phương đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt trong những ca khúc nổi tiếng: Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta...



Tuổi thơ
Lê Uyên Phương sinh năm 1941 tại Đà Lạt, là một trong những nhạc sĩ lớn của âm nhạc miền Nam Việt Nam trước 1975. Ông tên thật là Lê Minh Lập. Do giấy tờ bị thất lạc trong chiến tranh, tên của ông bị khai nhầm thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Ông giữ tên Lê Văn Lộc từ đó đến giờ.
Cha của Lê Uyên Phương vốn họ Phan nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ của Lê Uyên Phương là Công Tôn Nữ Phương Nhi, ông lấy chữ Phương trong tên của mẹ làm tên cho mình. Cùng với chữ Uyên, tên người bạn gái đầu tiên, ông ghép thành  Lê Uyên Phương.
Bản nhạc đầu tiên “Buồn đến bao giờ” được Lê Uyên Phương viết tại Pleiku vào năm 1960. Tám năm sau đó (1968), Lê Uyên Phương gặp Lâm Phúc Anh ở Đà Lạt, hai người thành hôn. Họ trở thành đôi tình nhân song ca nổi tiếng. Lâm Phúc Anh không muốn dùng tên thật nên lấy tênLê Uyên. Hai người thường xuất hiện song ca trước công chúng nên được gọi Lê Uyên và Phương.
Thật ra, Lê Uyên là người Trung Hoa thuần chủng, sinh 1952 tại phố Hàng Bồ, Hà Nội. Cha chị người gốc Hải Nam , mẹ người Triều Châụ. Năm 1954, Lê Uyên cùng với bố mẹ và người em gái là Lâm Phi Yến từ Hà Nội di cư vào Nam, cư ngụ trong một ngôi nhà rất khang trang ở Chợ Lớn. Đâ cũng là nơi đặt văn phòng của một Công ty vận tải chạy đường Qui Nhơn, Huế và Đà Nẵng do thân phụ chị khai thác.
Năm 1969, họ dắt nhau xuống Sài Gòn. Trong những năm đầu cùng nhau đi hát, Lê Uyên và Phương chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong khuôn viên đại học với phong trào Du ca Việt Nam . Với giọng ca thiết tha và trầm ấm, Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với khán giả giả Sài Gòn những năm sau đó…


Yêu nhau trong lo âu…


Lê Uyên Phương là một người đa tài. Tuy nhiên, đến 27 tuổi, anh vẫn chưa có “mảnh tình vắt vai”. Lúc bấy giờ, trên thân thể chàng xuất hiện nhiều khối u lạ. Mặc dù bác sĩ chưa định ra chính xác là bệnh gì, nhưng ai cũng nghĩ chàng mắc bệnh ung thư xương, không biết sẽ ra đi vào lúc nào. Chính vì thế, anh không nghĩ đến hôn nhân  để khỏi gây khổ luỵ cho người khác.
Ngày ấy, 16 tuổi, nàng là nữ sinh trung học xinh đẹp và ngây thơ, được cha (một thương gia giàu có) đưa lên Đà Lạt  học tại Virgo Maria, một trường nữ trung học có tiếng thời bấy giờ. Vừa xinh đẹp, vừa giàu có, Lê Uyên được nhiều chàng trai tán tỉnh, ngày đêm thương nhớ.
Như một định mệnh, nàng lại gặp và yêu đắm say Phương, chàng nhạc sĩ mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo không biết sẽ ra đi lúc nào. Nàng như con nai hiền, anh như một khu rừng già luôn xòe bóng mát chở che. Lê Uyên Phương hơn Lê Uyên 11 tuổi. Năm ấy, anh đã là một ông thầy giáo dạy Triết và  Nhạc tại một vài trường ở Đà Lạt. Chàng được học violon từ bé và bắt đầu sáng tác nhạc từ năm 20 tuổi, nhưng không ký tên thật là Lê Minh Lộc mà dùng bút danh Lê Uyên Phương.
Lê Uyên đã tâm sự: “Tôi yêu bởi cái tài và con người hiền lành, đạo đức, rộng lượng của anh. Nhưng yêu tha thiết hơn chính là vì căn bệnh hiểm nghèo của anh. Cuộc tình chúng tôi lãng mạn, đau đớn cũng bởi không biết một ngày nào đó cả hai sẽ chia lìa nhau. Chúng tôi yêu nhau nồng nàn và như thành một khối từng ngày, từng giờ cũng bởi cái chết luôn ám ảnh”.
Một nghiệt ngã khác trong cuộc tình định mệnh này là gia đình Lê Uyên không chấp nhận cho con gái đến với một người nay sống, mai chết như Phương. Cha, mẹ Lê Uyên cấm không cho họ gặp mặt nhau mỗi ngày. Trong thời gian về lại Sài Gòn, để được gặp mặt, họ phải ngồi suốt ngày trong nhà ga Sài Gòn. Có khi bụng đói rã rời, chỉ có mẩu bánh mì nhỏ trong bụng, ấy vậy mà họ vẫn không lìa nhau. Họ sống như thế một tháng trời. Những lúc nhớ thương người yêu da diết, anh dành hết cho âm nhạc. Những ca khúc trong tập Khi loài thú xa nhau đã ra đời trong hoàn cảnh chia lìa như thế.              Sau này, nhà văn Song Thao có viết về cuộc đời và hoàn cảnh những tác phẩm của Lê Uyên Phương:
Hồi đó... Nàng quen em gái anh và thỉnh thoảng vẫn lui tới nhà. Lúc đầu nói chuyện thường thường rồi sau anh trở thành “cố vấn” của nàng. Nàng hỏi ý kiến anh đủ thứ chuyện kể cả chuyện yêu đương nhăng nhít”. Họ yêu nhau lúc nào không biết. Tôi hỏi anh ngỏ tình yêu ở đâu. Trên đồi! Đà Lạt có những ngọn đồi mộng mơ cho những kẻ yêu nhau quấn quít..
Tiếng Lê Uyên và Phương từ chiếc máy cassette quấn lấy nhau vọng ra:
“ ...Lệ ngập ngừng bờ mi.
Giọt nước mắt lăn nỗi buồn.
Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông.
Giờ này còn nhìn nhau.
Nhìn đắm đuối như suối bền.
Nhìn suốt kiếp như chết mòn.
Nhìn hấp hối thương đau.
Ngày mai ta không còn thấy nhau”
                                (Cho Lần Cuối).
Anh khẽ bảo tôi chính vì bài này mà người ta đồn là anh sắp chết. Bệnh tật của anh đã trở thành huyền thoại. Người ta bảo là anh chỉ còn sống được một năm nữa. Người ta đồn là vào năm 1972 anh sẽ chết. Anh đưa bàn tay trái cho tôi coi. Trên lưng ngón tay trỏ nổi lên một cục bằng trái cà chua nhỏ đỏ au và mòng mọng. Những đường gân máu chạy nổi thấy rõ. “Bác sĩ cũng chưa thể định là bệnh gì. Bây giờ nó đã nổi thêm trên mấy ngón khác và một vài chỗ trong người. Muốn chữa bây giờ chỉ có thể cắt ngón tay này nhưng tôi chưa muốn cắt”. Anh xác nhận là những bài ca viết về sự chia phôi không phải là do bị ám ảnh bởi cái chết nhìn thấy trước mà do sự rắc rối và xa cách của mối tình đẹp nhất đời anh và khi được hạnh phúc anh luôn luôn sợ ngày nó sẽ hết. Người nghệ sĩ không những sống cho mình mà còn thông cảm được với cuộc sống của những người khác. Anh đã nhìn thấy cái chết và đã nghĩ nhiều về cái chết...”
“Chuyện tình của họ đòi đoạn đớn đau. Gia đình nàng không chấp nhận. Họ mê say trong trốn chạy. Năm 1968, hai người sống ở Sài Gòn. Họ không có một chỗ gặp gỡ nhau. Suốt ngày hai người ngồi trong sân nhà ga Sài Gòn. Thỉnh thoảng họ phải làm bộ ngoắc tay những hành khách ngồi trên xe ca của hãng Hàng không Việt Nam cho ra vẻ ngồi chờ người nhà. Mỗi ngày chỉ có một mẩu bánh mì nhỏ trong bụng. Họ sống như vậy một tháng trời. Tình yêu của họ được kết hợp bằng những ngày không có nhau. Chính những ngày xa cách nhớ thương là thời gian anh sáng tác nhạc. Những bản nhạc đang dần dần quen thuộc với mọi người được kết tinh trong sự nhớ thương đó nên nặng mang sự chia phôi. Mười hai bài trong tập “Khi Loài Thú Xa Nhau” được viết trong thời kỳ này. Nó không còn mang tình yêu thơ mộng, tình yêu trong trí tưởng, thật xa và thật huyền diệu như mười bài trong tập “Yêu Nhau Khi Còn Thơ” được sáng tác trong thời kỳ trước đó khi chưa gặp Lê Uyên”.
...Đà Lạt hoang sơ quyến rũ đã đưa anh trở về những rung cảm nguyên thủy của buổi hồng hoang. Không có Đà Lạt chắc khó có một thứ nhạc độc đáo Lê Uyên Phương. Mỗi ngày anh thức dậy từ sớm đi lang thang khắp núi đồi Đà Lạt tới khoảng nắng lên thì trở về nhà nghỉ. Khi mặt trời đi ngủ anh lại đi cho tới tối trở về ngồi vào viết tới sáng”.

            Ngày mai, ta không còn thấy nhau.





Năm 1979, Lê Uyên và Phương rời khỏi Việt Nam và định cư tại Nam California, Hoa Kỳ. Họ có hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Sau 15 năm chung sống, khoảng năm 1984 hôn nhân của hai người tan vỡ.
Sau đó, Lê Uyên lâm bệnh nặng. Sau một thời gian điều trị ở bệnh viện UCI ( University Of California in Irvine ) Lê Uyên Phương đã về nhà người con gái lớn của anh là Lê Uyên Uyên để sống. Đó là những ngày tháng bi thảm với một tình trạng sức khỏe sa sút do căn bệnh ung thư phổi tàn phá.
Cuối cùng, anh lại được đưa lại bệnh viện này để trút hơi thở cuối cùng vào chiều thứ Ba 29 tháng 06 năm 1999, hưởng dương 59 tuổi. Ông ra đi trong niềm luyến tiếc của mọi người yêu âm nhạc.
Ngày anh ra đi,  Lê Uyên suy sụp và gần như không gượng lại nỗi. Lê Uyên nhớ lại: “Lúc anh mất, tôi đã chuẩn bị thuốc ngủ để theo anh. Tôi khóc từ sáng đến đêm khuya, ngày nào cũng khóc và ngay khi tôi định tìm đến cái chết bởi quá tuyệt vọng thì tôi cảm nhận được có điều gì đó từ anh không muốn tôi như vậy. Có thể anh đã xui khiến một người bạn gọi đến cho tôi. Tôi còn nhớ rất rõ đó là ngày thứ 50 anh mất. Tôi không ngờ người bạn ấy có thể nói được những lời mà trước đây anh từng nói với tôi: “Nếu như nhạc của anh không có mình (anh không gọi tôi bằng em mà gọi là mình) thì không biết phải làm sao. Mình không thể khóc hoài như vậy, mình phải sống và có bổn phận gìn giữ, đưa âm nhạc của anh thăng hoa”.
Hơn 10 trôi qua… Giờ đây, Lê Uyên Phương không còn nữa nhưng tình khúc của ông đã trở thành những viên ngọc quý. Với giai điệu đam mê, đầy luyến tiếc, người ta còn thấy ở Lê Uyên Phương một tấm lòng bao dung và sự chắt chiu cho âm nhạc. Một ngày nào đó, trong góc khuất của đời sống, ngồi nghe lại “Dạ khúc cho tình nhân”:
…Ngày em thắp sao trời
Chờ trăng gió lên khơi
Mà mưa bão tơi bời
Một ngày mưa bão không rơi
Trên đôi vai thanh xuân
Ướp hôn nồng bên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy…
chúng ta mới thấy hết sự da diết, nồng cháy và ngọt ngào của một tình yêu đã đi xa ..


VŨNG LẦY CỦA CHÚNG TA
Theo em xuống phố trưa nay đang còn chất ngất cơn say
Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau
Cho nhau hết những mê say, cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau chất hết thơ ngây, trên cánh môi say
Trên những đôi tay, trên ngón chân bước về tình buồn, tình buồn

Yêu nhau giữa đám rong rêu, theo dòng nước cuốn lêu bêu
Đi qua những phố thênh thang, đi qua với trái tim khan
Ði qua phố bước lang thang, đi qua với trái tim khan

Theo em xuống phố trưa mai đang còn nhức mỏi đôi vai
Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau
Cho nhau hết những mê say, cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau chất hết thơ ngây, trên cánh môi say
Trên những đôi tay, trên ngón chân bước về tình buồn, tình buồn

Qua đi, qua đi dứt cơn mê
Tình buồn chồng chất lê thê
Qua đi, qua đi dứt cơn say
Tình này tình rồi thay

Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
Trong ngao ngán không dứt hết cơn cơn ê chề
Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
Trong ngao ngán không dứt hết một, một lần đau.


DẠ KHÚC CHO TÌNH NHÂN
Ngày em thắp sao trời
Chờ trăng gió lên khơi
Mà mưa bão tơi bời
Một ngày mưa bão không rơi
Trên đôi vai thanh xuân
Ướp hôn nồng bên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy
Cùng rót bao nhiêu ngày hoang
Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn
Ru người yêu dấu trong vùng trời đêm

Vừa hoa nở tươi môi
Tình nhân đã xa xôi
Ðời ngăn cách nhau hoài
Một lần thôi đã không thôi
Yêu nhau trong lo âu
Biết bao lần tha thiết nhớ mong
Lá hoa rừng màu xóa đường quay về
Làm ánh sao đêm lẻ loi
Màu tối gương bên đèn soi
Ân tình sâu vẫn trong đời thủy chung

ĐK:

Ðời mãi mãi mãi cách xa
Dòng nước mắt nóng tiễn đữa
Xin cho lần cuối
Tình ấy đắm đuối thiết tha
Vì qua bao nhiêu điêu linh
Xót xa đắng cay trong đời

 Màn đêm mở huyệt sâu
Mộng đầu xin dài lâu
Một vì sao lạ rơi, nghe hồn tê tái
trên dòng hương khói bay
Ái ân ơi đừng phụ lòng ta
Nhớ thương sâu xin gởi người xa
Khóc nhau trong cuộc đời
Giấc mơ xưa khăn phủ vành sô
Có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau
Chết bên nhau thật là hồn nhiên!
(Theo Trương Văn Khoa)

Lê Uyên Phương

Lê Uyên Ph°¡ng
Lê Uyên Phương (1941 - 1999) là một trong những nhạc sĩ lớn của dòng nhạc tại Sài Gòn, miền Nam Việt Nam trước 1975.

Ông tên thật là Lê Minh Lập, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1941 tại Đà Lạt. Trong thời kỳ chiến tranh, giấy tờ bị thất lạc, trong hai lần làm lại giấy khai sinh, tên của ông bị nhân viên giấy tờ nhầm thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Từ đó ông giữ cái tên Lê Văn Lộc.

Cha của Lê Uyên Phương vốn họ Phan, nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ của Lê Uyên Phương là Công Tôn Nữ Phương Nhi, ông lấy chữ Phương trong tên của mẹ làm tên cho mình. Cùng với chữ Uyên, tên người bạn gái đầu tiên, ông ghép thành nghệ danh Lê Uyên Phương.

Lê Uyên Phương gặp Lâm Phúc Anh ở Đà Lạt, năm 1968 hai người thành hôn. Họ trở thành đôi tình nhân song ca nổi tiếng. Vì Lâm Phúc Anh không muốn dùng tên thật nên lấy nghệ danh là Lê Uyên, cắt từ chữ Lê Uyên Phương. Hai người song ca được gọi Lê Uyên và Phương.

Lê Uyên Phương khởi sự viết nhạc từ 1960 với Buồn đến bao giờ viết tại Pleiku. Những năm đầu thập kỷ 1970, từ Đà Lạt vào Sài Gòn, Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với tân nhạc. Trong những năm khốc liệt nhất của cuộc Chiến tranh Việt Nam, Lê Uyên và Phương, với những ca khúc nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc, triết lý đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt. Lê Uyên Phương đã viết nhiều nhạc phẩm nổi tiếng như: Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta...

Năm 1979, Lê Uyên và Phương vượt biên rời khỏi Việt Nam và định cư tại nam California, Hoa Kỳ. Họ có hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Sau 15 năm chung sống, khoảng 1984, 1985 cuộc hôn nhân của hai người tan vỡ.

Mất tại nhà thương UCI, quận Cam, tiểu bang California, Hoa Kỳ ngày 29 tháng 6, 1999, lúc 2:45 Pm vì bệnh ung thư phổi, hưởng dương 59 tuổi. Ông ra đi trong niềm luyến tiếc của mọi người yêu âm nhạc.

Tác phẩm

Tập nhạc:

* Khi Loài Thú Xa Nhau (1970)
* Yêu Nhau Khi Còn Thơ (1971)
* Biển, Kẻ Phán Xét Cuối Cùng (1980)

Và một số tập nhạc đã hoàn tất, chưa ấn hành:

* Uyên ương Trong Lồng (1970-1972)
* Bầu Trời Vẫn Còn Xanh (1972-1973)
* Con Người, Một Sinh Vật Nhân tạo 1 (1973-1975)
* Con Người, Một Sinh Vật Nhân tạo 2 (1973-1975)
* Trại Tỵ Nạn Và Các Thành Phố Lớn (1979-1983)
* Trái Tim Kẻ Lạ (1987-1988)
* Lục Diệp Tố (1977-1990)

Ca khúc:

* Bài Ca Hạnh Ngộ
* Bên Đồi Lau Xanh
* Bên Hồ Than Thở
* Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa
* Buồn Đến Bao Giờ
* Chiều Phi Trường
* Cho Lần Cuối
* Còn Nắng Trên Đồi
* Dạ Khúc Cho Tình Nhân
* Đá Xanh
* Để Lại Cho Em
* Đêm Chợ Phiên Mùa Đông
* Đôi Khi Hạnh Phúc Buồn
* Đưa Người Tuyệt Vọng
* Hãy Ngồi Xuống Đây
* Hết Rồi Những Ngày Vui
* Khi Xa Sài Gòn
* Không Nhìn Nhau Lần Cuối
* Khúc Hát Nhân Tình
* Kỷ Niệm Trong Chiều
* Là Giọt Máu Bầm Trong Trái Tim Tôi
* Loài Hươu Đa Cảm
* Lời Gọi Chân Mây
* Máu Biếc Xanh Và Ngực Tối
* Một Dạ Hội Buồn
* Một Ngày Vui Mùa Đông
* Ngồi Lại Trên Đồi
* Nỗi Buồn Dâng Hiến
* Ở đây, Thôi Ở Đây Đành
* Tình Khúc Cho Em
* Tôi Đứng Trên Đồi Mây Trổ Bông
* Tôi Muốn Tin, Tôi Muốn Yêu Cuộc Đời
* Trên Da Tình Yêu
* Uống Nước Bên Bờ Suối
* Vũng Lầy Của Chúng Ta
* Yêu Nhau Trong Phận Người

Ngoài âm nhạc, Lê Uyên Phương còn viết văn và làm thơ: Không Có Mây Trên Thành Phố Los Angeles (truyện, tùy bút 1990).





Tuesday, November 29, 2011

Hùng Cường Tiếng Hát Của Cuồng Lưu


Vào năm 1957 , Hùng Cường đã trở thành ngôi sao đang lên , đã khua đông ca trường nhạc giới bằng giọng kim (ténor) vạm vỡ và phong phú của anh.Vào bước khởi nhiệp để chinh phục thính giả , anh đã dùng cách diển tả ngậm ngùi và cực kỳ truyền cảm trong lúc hát bài " Ông Lái Đò " của Hiếu Nghĩa.

Những năm 1956 , 1957 , 1958 , Hùng Cường ưa chọn những bài có chỗ lên cao để hát trên làn sóng điện . Những thính giả thích loại nhạc âm hưởng dân ca có tiết điệu mùi mẫn tỉ tê thì cho rằng Hùng Cường rống nhiều quá .Vì không quen nghe một giọng quá vạm vỡ như vậy nên họ có cảm tưởng anh đánh đô vật một cách ạch đụi với âm thanh và họ không thích anh. Họ còn có cảm tưởng anh dùng âm thanh để tát mạnh vào mặt họ , hiếp đáp lỗ tai họ , xé rách te tua mối cảm hoài của họ.

Do đó họ chỉ thích anh hát bản " Ông Lái Đò " của Hiếu Nghĩa hoặc vài bài tiền chiến hay một số bài nổi danh vào khoảng thời gian trước Hiệp Định Geneve như "Ghé Đây Thuyền Mơ " của Dzoãn Mẫn , " Ai Về Sông Tương "của Thông Đạt, "Sơn Nữ Ca" của Trần Hoàn, "Dư Âm " của Nguyễn Văn Tý , " Bến Cũ" của Anh Việt. Đó là những bài không có chỗ lên quá cao , lại hợp với cảm quan của những thính giả có khiếu thưởng ngoạn trung bình , không tinh vi quá mà cũng không dể dãi quá.

Nhưng giới sành nghe nhạc thì thích giọng hát căng phồng sinh lực và dẻo dai tiềm lực của anh. Mỗi khi lên cao , Anh chuyển giọng thần hổ mãnh sư làm rúng động núi rừng , giọng hát chẳng những không mỏng vì âm lượng giãm thiểu mà còn dầy thêm ra , rạng rỡ như phừng phừng lửa dậy , như tỏa hào quang.

Và đặt biệt nhất là khi lên cao , anh hát đúng cao độ , không sai một bán cung. Lắng nghe tiếng hát cuồn cuộn như cuồng lưu, như thác đổ của anh , thính giả sành điệu có cảm giác âm thanh của giọng hát anh chan hòa khắp tâm hồn họ , thắp sáng cõi thưởng ngoạn của họ và đồng vọng ngân nga lâu dài trong ký ức của họ.

Năm 1960 , Hùng Cường tạm lìa bỏ âm nhạc , theo đầu quân gánh cải lương Ngọc Kiều do cặp uyên ương Hoàng Kinh & Ngọc Đán làm giám đốc. Rồi anh sanh cộng tác gánh Kim Chưởng , rồi gánh Kim Chung và rồi gánh Dạ Lý Hương. Và sau hết là gánh Sóng Thần.
Ở gánh nào , anh cũng làm kép chánh vì anh diển xuất rựa ràng và hát Vọng Cổ thật mùi. Nhào qua địa hạt ca kịch cải lương , anh trở thành nghệ sĩ thượng thặng ngang hàng với Út Trà Ôn , Hữu Phước , Thành Được , Thanh Hải.

Tuy nhiên anh không hề rời bỏ tân nhạc. Anh trở về tân nhạc bằng cách trình diển những bản nhạc giật gân ca tụng lính , nịnh nọt xả láng lính và o bế giấc mơ các cô em gái hậu phương yêu các anh trai tiền tuyến . Trên sân khấu đại nhạc hội , trên màn ảnh Tivi , anh cùng nữ ca sĩ Mai Lệ Huyền hát loại kích động nhạc lấy đề tài mối tình giữa chàng chinh nhân áo chiến cùng cô nữ sinh áo trắng làm sân khấu quấy nhộn , bừng bừng hứng khởi. Tiết mục song ca của cả hai là cây đinh sáng chói trong các chương trình văn nghệ tạp lục.

Càng ngày anh càng đi sâu vào quần chúng , càng rời xa giới sành điệu. Tuy nhiên năm 1966 , anh cùng Hà Thanh hát bài " Hàng Hàng Lớp Lớp " của Nguyễn Văn Đông và được thu vào a nhựa microsillon. Bài này làm thỏa mãn mọi tầng lớp thính giả. Chính giờ đây , khi nhắc tới Hùng Cường , nữ ca sĩ Quỳnh Giao suýt soa :
- Chú Hùng Cường hát bài " Hàng Hàng Lớp Lớp " hay quá !

Và trước đó nữa , vào năm 1962 , tôi được nghe Hùng Cường hát bài " Mấy Dặm Sơn Khê " của Nguyễn Văn Đông trong cuộc tuyển lựa ca sĩ tại rạp Thống Nhất do đài Sài Gòn tổ chức. Giọng anh thật ngọt , thật dũng mãnh , cách diển tả của anh thật ngậm ngùi , cách chơi huê dạng thật trác tuyệt ở chỗ giát mỏng giọng hát như lụa the , như giấy quyến dùng để vấn thuốc Gò Vấp.

Ra hải ngoại , Hùng Cường có thực hiện một băng nhạc. Anh làm cho khác sành điệu phải mắc cở rùng rợn vì anh chơi fantaisie một cách quái đản. Anh tru anh rống , anh ụa mửa vài tiếng ở câu này , anh khạc nhổ vài tiếng ở câu kia. Đôi lúc anh bệu bạo làm như sắp khóc tới nơi .
Đã vậy anh còn nghiến tiếng , nhồi chữ , bày đủ trò lố lăng. Băng nhạc đó đã đào huyệt chôn sớm tên tuổi của anh khi giọng anh vẫn còn phong phú , làn hơi anh vẫn còn dũng mãnh như thuở nào.

Bao năm sống dưới chế độ Cộng Sản ở quê nhà , Hùng Cường thấm thía thế nào là ý nghĩa hai chữ Tự Do. Ra hải ngoại , song song với ca hát , anh đóng kịch cải lương , sở trường cũ của anh. Anh còn đóng hài kịch với La thoại Tân , Túy Hồng , Thảo Sương ...
Còn bao nhiêu thì giờ anh dành tranh đấu nhân quyền , cho tự do , cho quê hương dân tộc. Bất cứ cuộc biểu tình đòi hỏi nhân quyền nào , bất cứ cuộc hội họp cho đại cuộc nào cũng có anh tham gia . Anh sẵn sàng hát miễn phí để đóng góp vào quỹ giúp đỡ cho đồng bào còn kẹt sau bức màn tre , cho đồng bào vượt biên. Đã vậy anh còn sáng tác nhạc bừng bừng hào khí đấu tranh.

Khi nằm trên giường bệnh chờ chết , anh dặn vợ con và bạn bè khi làm lễ nhập quan cho anh nhớ lấy lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ phủ lên người anh. Đám ma anh long trọng như một quốc táng , có gần nghìn người ở California và ở các nơi đổ về để đưa tiển anh đến lò thiêu .
Ai ai cũng thương cảm mến yêu một nghệ sĩ lớn , có tài trình diển đa diện , có tâm hồn vĩ đại như anh .




Bích Thuận Tiếng Hát Bền Sắt Tươi Son



Từ năm 1954 trở về trước, trên sân khấu Phụng Hảo, Bích Thuận hợp với bốn nghệ sĩ Phùng Há, Thanh Tùng, Kim Thoa và Ngọc Hải thành năm viên bảo ngọc sáng nhất của đại ban này. Sang qua Nam Phi thì cô hợp cùng Năm Phỉ, Bảy Nam và Mười Truyền thành một lực lượng hùng hậu bên giàn đào. Khi bà Năm Phỉ qua đời thì đã có hai ngôi sao khác là Kim Hoàng và Kim Cương thay thế. Còn trong số nữ nghệ sĩ cải lương hát tân nhạc vững chải ở miền Nam trước hiệp định Genève chỉ có Túy Hoa, Kim Hòang và Bích Thuận mà thôi.

Ở chương này, tác giả chỉ nói tới nghệ thuật hát dân ca ba miền, nghệ thuật hát tân nhạc và nghệ thuật diễn ngâm của Bích Thuận. Những bộ môn ấy không phải là xa lạ đối với cô tù khi cô bước vào ca kịch cải lương. Từ năm 1954 trở về trước, cô đã trình diễn tân nhạc trên các sân khấu đại ban như Tố Như, Phụng Hảo, Nam Phi. Tuy là nghệ sĩ của sân khấu cải lương, nhưng Bích Thuận không thể hát những bài bản có kỹ thuật lắc léo như "Tứ Đại Oán", "Tây Thi", "Văn Thiên Tường", "Phụng Hòang", "Xuân Nữ" v.v...cùng vọng cổ nhịp 16. Cho nên cô dùng tân nhạc để che lấp cái khuyết điểm của mình.

Bích Thuận hát đủ lọai nhạc với điều kiện là những bản nhạc vừa với âm vực của giọng bán kim (mezzo soprano) của cô. Riêng tác giả, ông đã được nghe cô hát bản "Túi Đàn" của Canh Thân trong vỡ "Gánh Hàng Hoa" được trình diễn trên sân khấu Phụng Hảo, bản "Trên Mây" của Thẫm Óanh trong vỡ tuồng "Hai Bóng Hoa Rừng" của Duy Lân trên sân khấu Nam Phi. Đó là thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh. Cũng vào thời này, cô hát trên làn sóng điện đài phát thanh Pháp Á và trên sân khấu đại nhạc hội qua bản "Ai Về Sông Tương" của Thông Đạt và hai bản "Trách Người Đi" và "Chiếc Áo The Thâm Tàn" của Đan Trường.

Rồi vào thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa, có lần cô xuất hiện trong kỳ đại nhạc hội Phong Lan do bác sĩ Trương Ngọc Hơn tổ chức.
Cô đóng vai thứ hạng trong vở kịch phóng tác theo phim "La Valse Dans L'ombre" bên cạnh Bích Sơn và Châu Kỳ trong hai vai chính. Trong vở kịch ấy cô hát bài "Mambo Italiano" bằng lời Việt. Đã hát được bài kích động ấy thì cô ngại ngùng gì mà không hát bài "Tiếng Hát Với Cung Đàn" của Văn Phụng?

Tiếng hát của Bích Thuận dẻo và mềm mại như chiếc bánh dầy phô vóc trắng mịn. Nó có sinh lực vạm vỡ, phong phú. Cô hát chân phương quá, không một nét điệu đà dù là phớt nhẹ, không chút bay bướm dù là kín đáo đi nữa. Tuy nhiên cái ngân vang bén ngót và sắc sảo của nó vẫn tô điểm cho nó đôi chút nữ tính.

Chuổi ngân dài của cô rất đều đặn như chuổi trân châu, rất óng ả thỏai mái, không chút nắn nót nào. Đó là tiếng hát vững vàng, bền chắc có thể đương đầu dai dẳng với sự phá họai tàn nhẫn của thời gian. Nó gợi lên thứ mực son thật thắm thật tươi vừa mài đặc sánh trên chiếc nghiên đá.

Thứ mực ấy tẩm lên chiếc triện để in dấu lên nền giấy quý, lên lụa thơm để ghi lại dấu triện son điểm trang cho một bài cổ thi viết trên nền giấy vẽ mờ hình long phụng hoặc ở chổ lạc khỏan của một bức cổ họa. Nó còn gợi nên màu hoa phượng ở trong sân trường mùa hạ, màu hoa vông bên dòng rạch vào mùa xuân ở miền Nam. Đỏ thật thắm thiết, đỏ xán lạn, ửng ánh ngọc lựu hay ánh hồng ngọc trong nắng sớm buổi đẹp trời, đỏ hớn hở trong lòng khách vãn cảnh.

Và cũng qua tiếng hát của Bích Thuận, chúng ta cũng có thể liên tưởng đến tấm lòng bền sắt tươi son của cô suốt ba phần tư cuộc đời hiến dâng cho nghệ thuật trình diễn. Đó như một vết thủ cung sa của người thiếu nữ nguyện hiến dâng tấm băng trinh của mình vào công việc phụng sự thần linh. Vết thủ cung sa ấy chói rạng màu son thắm thiết trên cườm tay trắng nuột nà như mỡ đọng của nàng.

Khi nghe Bích Thuận hát dân ca miền Bắc như Quan Họ, Trống Quân, Cò Lã, Ả Đào, Sa Mạc, Bồng Mạc v.v... chúng ta có thể liên tưởng đến khung cảnh phiên chợ đầu xuân ở miền quê thời tiền chiến. Ở đó, có những chàng trai khôi vĩ mặc áo dài the La Cải, đội khăn xếp trên đầu, cầm quạt trong tay.

Ở đó có các thôn nữ xinh tươi mặc áo nâu non,yếm thắm, váy lĩnh Bưởi, thắt giây lưng thiên lý, tóc vấn thả đuôi gà. Tiếng hát của cô còn gợi hương vị mộc mạc và thân thương của những món ngon bày bán ở chợ quê như bún riêu, bún ốc, canh bún, bánh giò, bánh uôi, bánh khúc, bánh khảo và nhất định là phải có hàng bán nước chè xanh dưới bóng mát cây đa.
Trải qua biết bao lớp sóng thăng trầm, tiếng hát của Bích Thuận tuy hơi gắt mổi khi cô lên cao,nhưng nó vẫn mềm dẻo, vẫn lồ lộ tình ý gắn bó vào nghệ thuật như tự xưa giờ. Chuỗi ngân của cô vẫn dễ dàng, vẫn đều đặn.

Trong lãnh vực ngâm thơ, cô vẫn là nữ kiện tướng. Cách ngâm của cô đơn giản, không trầm bổng và huê dạng nhiều, nhưng nhờ phần ngân nga trác tuyệt mà nó có một sắc thái lộng lẫy.

QUỲNH GIAO: Tiếng Ca Mở Nẻo Lam Kiều.





Hồi ở quê nhà, trên tivi, tôi chưa thấy ai hát bản "Xuân Và Tuổi Trẻ" của La Hối tươi vui và rạng rỡ như Quỳnh Giao, dù khi diễn tả bài này cô không nhún nhảy, không phô trương mắt liếc miệng cười. Há mà lẳng nhức lẳng nhối, điệu đà, ỏn ẻn như mấy cô vợ bé nũng nịu với chồng là không có cô.

Ở ngay tiếng hát cô, khán thính giả đã thấy mùa xuân tươi sáng và tuổi trẻ hạnh phúc trong đó rồi. Còn bản "Giòng Sông Xanh" của Johann Strauss, cô hát sao mà nhẹ nhàng, thênh thang, trơn ngọt, ngân bằng nguyên âm thật sướng tai. Tùng chuỗi ngân dài như dải lụa rập rờn trong gió tuôn ra không chút nắn nót.

Quỳnh Giao hát cực kỳ điêu luyện, ai ai cũng biết. Quỳnh Giao tốt nghiệp môn dương cầm trường Quốc Gia Âm Nhạc, có ngón đàn tươi và sành điệu, chắc chẳng ai quên.

Nhưng mấy ai biết sự thuỷ chung và ý tình thắm thiết của cô đối với ca hát? Ca hát là tôn giáo của cô, là mục đích mà cô đeo đuổi hơn ba phần tư cuộc đời, dù khách sành điệu của cô quá ít, dù kẻ biết được cái chân giá trị của giọng hát cô chẳng được bao nhiêu ngươì nữa.

Ở ngoài đời, Quỳnh Giao có cung cách thật cao sang, cho nên cô giữ gìn tiếng hát cô quý phái theo. Cô không bao giờ vừa hát vừa nhỏng nhẻo với khán giả, hoặc làm như đang hổn hển say nhừ lạc thú ái ân như mấy bà sủng phi ỏn ẻn mê hoặc đức vua hiếu sắc hiếu dâm, như mấy cô kỹ nữ nịch ái các khách làng chơi khờ khạo.
Cô đưa tình cảm vào giọng hát có chừng mực.
Người chưa sành điệu khó cảm thông nổi giọng hát của cô vì đối với họ nó hơi làn lạt, chưa đủ ngọt say sưa như mật ong, mà củng không đắng đậm như mật gấu.

Tuy nhiên, cô không hát quá chân phương như Mộc Lan hay như Anh Ngọc. Tình cảm trong giọng hát của cô phơn phớt và dịu nhẹ.Cô cũng dùng nét láy thật mềm để trang sức cho giọng hát mình thêm nét gợi cảm, để nữ tính cô được bộc lộ một phần nào.
Hình như cho tới bây giờ, Quỳnh Giao vẫn giữ giọng thiếu nữ non mềm và tươi mươn mướt, một giọng trong ngần và trắng loá loá như pha lê.

Giọng Quỳnh Giao thuộc loại kim (soprano). Khi hát ở những chổ ngang ngang thì nó quá diụ mềm làm cho chúng ta nghĩ tới hình ảnh các cô khuê nữ kiều nhược.
Khi lên cao, giọng cô tuy không xé lụa, như giọng Ánh Tuyết, tuy không lảnh lót chuông ngân như giọng Thùy Nhiên năm nào, nhưng vẫn chắc, vẫn dẽo, vẫn thoải mái và thống khoái.

Cô lại còn ưa chuyền hơi, từ tiếng chót câu đầu cô ngân nga thật dài rồi bắt qua tiếng đầu của câu sau với một làn hơi óng ả vóc nhung tơ và dồi như nước sông mùa lũ, nghe mà cảm thấy đã cái lỗ tai biết dường nào.

Quỳnh Giao thường hát những bài chọn lọc, có phẩm chất cao. Cô không chìu theo thị hiếu của khán thính giả tạp nhạp. Cô nhắm vào khách sành điệu ít oi, dù nghìn người chỉ có một người đi nữa.

Cô hát những bản có nhiều chỗ lên cao để cô có thể biểu diễn giọng kim cao vút và sáng nguy nga, sáng lồng lộng của mình như: "Chiều Về Trên Sông" của Phạm Duy, "Tiếng Dương Cầm" và "Mưa Trên Phím Ngà" của Văn Phụng,"Hẹn Một Ngày Về" của Lê Hữu Mục, "Tiếng Thời Gian" của Lâm Tuyền, "Hoài Cảm" và "Thu Vàng" của Cung Tiến.

Bản "Sao Đêm" của Lê Trọng Nguyễn và "Đường Chiều Lá Rụng" của Phạm Duy tuy không có chỗ lên thật cao nhưng vẫn là hai bản khó hát, các ca sĩ có kỷ thuật non kém sẽ hát tuột giọng, đâm hơi, lạc giọng...nhưng vốn có kỷ thuật thâm hậu, Quỳnh Giao hát rất đúng giọng, không sai một bán cung, rất điệu nghệ, càng nghe càng khoái.



Mai Hương Tiếng Ca gợi nét thêu trên lụa



Hình như đấng hóa công hà tiện, không ban cho Mai Hương sắc và thanh vừa phải để giúp cô bước vào nghệ thuật trình diễn bằng những bước chân khua động, bằng hào quang rực rỡ. Tiếng cô lu mờ bạc nhược. Nhưng Mai Hương biết luyện giọng để trở thành một ca sĩ thượng thặng với kỷ thuật ca hát ra già dặn. Mai Hương có kỷ thuật ca hát và nội công thâm hậu hơn cả Thái Thanh. Tiếng hát cô cực kỳ điêu luyện.

Cô tuy có giọng yếu và lu hơn giọng Thái Thanh, nhưng khi cô lên cao giọng cô không chua, không bén ngót, không xon xỏn, không gợi nên thứ ánh sáng hỗn láo chiếu trên tấm gương như giọng Thái Thanh. Chuỗi ngân của cô vừa đều đặn vừa gợn sóng lăn tăn có thể kéo dài theo trường độ của một nốt nhạc dài.

Tiếng hát ấy mềm mại, không nẩy âm vang, không loé hào quang và không có làn hơi dũng mãnh và dồi dào. Nữ giáo sư âm nhạc dân tộc Quỳnh Hạnh thường bảo :

"Hát như Mai Hương mới gọi là hát hay."
Vào năm 1961, anh Nguyễn Văn A, giáo sư trường quốc gia âm nhạc dặn tôi:
"Mai sau, bạn có viết về ca hát, nên lấy các giọng Mộc Lan, Châu Hà, Kim Tước, Mai Hương và Tuyết Hằng làm chuẫn. "

Mai Hương thường hát những bản lọt ra ngòai âm vực của giọng hát mình. Khi lên nốt quá cao,cô chuyền qua giọng óc mà thính giả không nhận ra lúc cô chuyễn giọng.
Giọng thật của cô đã mỏng sằn rồi nên khi chuyền qua giọng óc mỏng dính, thính giả vẫn không nhận rõ sự khác biệt của hai giọng.

Nhưng cái hay của Mai Hương là khi hát bằng giọng óc, cô không nhốt giọng quá sâu trong cuống họng như Thái Thanh nên giọng óc của cô vẫn ngọt, tuy không lãnh lót du dương. Khi xuống khá trầm, cô hát vẫn trót lọt như thường, nhưng tiếng không rền, không có dư vang và không kéo một chuỗi ngân dài. Thường là một chuỗi ngân đều đặn với năm ba hột khít khao mà thôi.

Nhờ biết dàn trải làn hơi đâu vào đó nên Mai Hương không bao giờ hụt hơi khi lên cao hoặc xuống thấp, ngay ở những chổ hóc búa mà giọng cô vẫn lướt qua một cách ngon lành, một cách tỉnh bơ, không chổ nào trục trặc thô tháp, không chổ nào vỡ gảy vụng về.

Nghe Mai Hương hát, chúng ta có thể liên tưởng đến buổi bình minh bên bờ biển trông ra mây phương Đông rực rỡ màu hồng. Bãi cát màu nâu vàng ấm áp loáng thoáng những câ thùy dương màu bích ngọc.

Thủy triều vừa dâng cao, từng đợt sóng mềm mại âu yếm hôn lên bãi cát, rồi mực nước tràn lên cát biến màu vàng nâu của cát thành màu đường mía thẫm hơn, phản chiếu ánh nắng chuyễn qua màu vàng diệp.

Tiếng hát Mai Hương được vẽ bằng những lớp sóng mềm mại ấy, vọng vào tai khách ngắm cảnh lời rì rào của sóng hoa theo tiếng thuỳ dương vi vút bất tuyệt.

Túy Hồng Tiếng hát phố vắng đèn khuya



Vào năm 1955, 56 gì đó, tôi đã nghe Túy Hồng diễn kịch truyền thanh trên đài Sài Gòn trong ban Dân Nam. Thuở ấy cô nữ sinh Trương Ánh Tuyết vừa chân ướt chân ráo từ tỉnh Bình Dương xuống Sài Gòn đầu quân cho ban Dân Nam lấy nghệ danh là Túy Hồng. Lúc đó bên phe nữ, ban này đã có Túy Hoa, Tuyết Vân, Tuý Phượng.

Túy Hồng vừa diễn kịch truyền thanh vừa ca hát chút ít. Thuở ấy, cô hát thua xa Tuý Phượng vì giọng hát cô chưa thuần thục lắm. Khi ông bầu Anh Lân của ban Dân Nam quyết lòng đem vở kịch "Áo Người Trinh Nữ" lên sân khấu có mời kỳ nữ Kim Cương vốn là đào hát cải lương để thủ vai chính trong thoại kịch ấy.

Ông giao vai cô em gái của nữ nhân vật chính này cho Túy Hồng. Vỡ kịch thành công quá sức tưởng tượng. Kim Cương và Túy Hồng đã làm đổ lệ biết bao khán giả. Từ đó, Túy Hồng trở thành mục tiêu để cho báo chí và giới mộ điệu nhắc nhở tới.

Thuở đó, cô xinh lắm, dáng dấp nữ sinh nhỏ nhắn, khuôn mặt mặn mà. Song song với công việc diễn kịch, cô còn ca phụ diễn tân nhạc. Vốn có tinh thần cầu tiến và ham học hỏi nên cô không ngớt luyện giọng và trao dồi diễn xuất nên chẳng bao lâu, cô có một giọng hát vững vàng về kỷ thuật và một tài năng diễn xuất điêu luyện.

Tiếng hát Túy Hồng trong như pha lê, lúc nào cũng thanh và mỏng, tuy thế khi lên cao thì hơi chát nhưng không mất âm lượng. Lại nữa, cô biết láy nhẹ, biết bào mỏng ở vài chổ để cho tiếng hát mình gợi cảm và truyền cảm hơn. Thật ra, khi nói chuyện và khi hát,

Tuý Hồng xài từ đầu tới cuối bằng giọng óc (ông bà mình gọi đó là giọng mái). Nhưng luyện được một giọng mái thuần túy mà không chói tai, không mỏng dính, lại còn dẻo mề dẻo mệt cũng đâu phải dễ. Ngọc Cẫm và Sơn Ca cũng hát bằng giọng mái từ đầu tới cuối, nhưng họ không biết ngân nga. Còn Túy Hồng ngân nga thật sướng tai, chuỗi ngân đã nhỏ và đều mà lại còn dài, còn dịu muốt, còn óng mượt nhung tơ.
Lúc đầu hát bản "Chiều Tàn" của Lam Phương, khi lên cao, Túy Hồng vừa hát faux vừa tét giọng. Nhưng về sau cô có dịp hát lại bài này. Khi lên cao, cô lướt được cái chổ cao hóc búa và nhiêu khê, tuy không lướt dũng mãnh như hỏa tiển vút lên cao nhưng cũng lướt phom phom như con tàu rẽ sóng.

Những ca khúc của Lam Phương do Túy Hồng diễn tả đều hay như "Đèn Khuya", "Kiếp Nghèo", "Kiếp Ve Sầu", "Tiễn Người Đi", nhất là hai bản "Chiều Tàn" và "Phút Cuối". Bài "Phút Cuối" khi mới ra lò được Diên An và Túy Hồng hát thu thanh vào dĩa nhựa, bán chạy rất nhanh. Về sau, phường lái nhạc lại giao cho Thanh Tuyền và sau đó giao cho Anh Khoa hát nữa. Nhưng những kẻ sành điệu nhận thấy rằng hai ca sĩ sau Diên An và Tuý Hồng hát gảy nhiều chổ, không điệu nghệ và không truyền cảm bằng Tuý Hồng.

Tuý Hồng rãi tình cảm của mình vào những bài hát mà cô trình bày rất đậm đà mà không lố lăng. Những bài hát của Lam Phương hầu hết không được cao sang thanh thoát, nhưng cách diễn tả của cô không quê mùa, khác xa với những ca sĩ thời danh được đào tạo ở lò Mạnh Phát cùng Nguyễn Văn Đông, lò Nguyễn Đức, lò Tùng Lâm..

.Túy Hồng lẫn Túy Phượng và Kim Vui là ba giọng hát có bản lĩnh, nhưng không được đời đãi ngộ xứng đáng với cái tài của họ. Người đời nhất là quần chúng tạp nhạp chỉ chuộng cái lãnh lót, cái màu mè riêu cua của giọng hát nên không chú ý đến cái nội lực và kỹ thuật chân truyền của giọng hát.

Ở bài "Đèn Khuya", Túy Hồng như dùng tiếng hát của mình trải trong cõi mường tượng của người nghe khung cảnh một con phố nửa đêm vắng lạnh với ánh đèn đường vàng vọt.
Và trên con phố đó có một người đàn bà thất thễu bước về một ngõ tối, nhà của hai bên khép im ỉm. Người đàn bà ấy là ai? Có thể là một cô phụ sầu đời và cũng có thể là một cô gái ăn sương về già. Và dù là ai đi nữa, đó cũng vẫn là người không thỏa hiệp với cuộc sống hiện tại và mang trong đáy sâu của tâm khảm mình một vết thương.

Đó là một khung cảnh buồn mà giọng hát của Tuý Hồng đưa người nghe đối diện với những tâm trạng lạc lõng, mất điểm tựa trong cuộc sống; đương sự đang tìm về một mái nhà đã tan nát, một hình bóng thân yêu đã xa xăm và một dĩ vãng đẹp đã bị xóa nhòa.



Sỉ Phú Tiếng hát vọng lời âu yếm trong mơ



Tôi không nhớ rõ tôi được xem Sĩ Phú hát trên Đài Truyền Hình Việt Nam vào năm nào. Anh xuất hiện trên màn ảnh nhỏ với bộ quân phục thuộc binh chủng không quân, mang lon thiếu tá.
Khuôn mặt Sĩ Phú không phải là khuôn mặt đẹp trai, nhưng đó là khuôn mặt khá khôi vĩ và có sức lôi cuốn mạnh đối với phụ nữ.
Ông chinh phục phụ nữ không phải ở vẻ đẹp trai mà ở cái hấp lực ở nhân diện, vóc dáng, cử chỉ, giọng nói, cách ăn nói mà đấng Hóa Công chỉ dành cho một số rất ít đàn ông, cả nghìn người chưa chắc đã có một người.
Ca sĩ Sĩ Phú có hàng ria mép tỉa mỏng và đen lánh như vuốt bằng sáp, có nụ cười thật tươi, thật , phơi bày hàm răng ngọc trai đều đặn và khít khao.
Có nhiều phụ nữ say mê Sĩ Phú không hẳn chỉ hòan tòan ở giọng hát nhung mềm của ông mà ở cái vẻ hào hoa khôi vĩ, ở cái vẻ trai lơ quyến rũ của ông.
Tiếng hát của ông không hẵn là điêu luyện, nhưng đó là một giọng không rơi xuống hàng ngũ dành cho quần chúng hỗn tạp.
Nó có nét nhà nghề, khi lên cao hơi mỏng nhưng mịn màng như phớt lớp phấn tuyết nhung, khi ở chổ ngang thì êm ái như rơi vào đáy thẳm của giấc mộng và khi xuống trầm thì khá rền và khá dội sâu.
Ở chổ rền, tiếng hát tóat chất nam tính cực kỳ rực rỡ của ông và như thỏang cái ấm áp của khói nhang đêm trừ tịch.
Các bà các cô mê Sĩ Phú hơn tài tử điện ảnh Trần Quang, vốn cũng có bộ ria mép và vẻ khôi vĩ trai lơ như Sĩ Phú. Bởi sao?
Trần Quang xuất thân là một dân sự, trong khi đó Sĩ Phú là một sĩ quan cao cấp, lại thuộc binh chủng Không quân vốn là một binh chủng ưu tú trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lại nữa, cái lẵng của Trần Quang bộc lộ, còn cái lẵng của Sĩ Phú thâm trầm sâu sắc hơn.
Tiếng hát của Sĩ Phú ngự trị ngay trong lòng các cô kiều nga tố nữ có tâm hồn sẵn sàng rung động với nhạc tình cảm có phẫm chất quý báu. Nó đi sâu vào ngõ ngách trái tim của phụ nữ hơn là đi sâu vào nội giới của các bậc râu mày.

Giọng của Sĩ Phú không phải là giọng được kỷ thuật đào luyện đến mức thuần thục như giọng Duy Trác hay giọng của Ạnh Ngọc và của Phượng Bằng. Về âm sắc, đây là gọng mê hoặc làm chúng ta nghĩ đến giọng ca của các người đàn ông có sức lôi cuốn phụ nữ rất mạnh, một giọng đa tình lẫn trữ tình. Về kỷ thuật, thì đây là giọng như xôi rượu chưa được dậy men sung mãn, như trái cây chưa giấm cho thật chín mềm.
Trong tiếng hát của ông có một chút gì hơi sống sượng. Đó là một cách dàn trải làn hơi đôi khi không được mượt mà lắm.Và khi ở chổ hóc búa, nó có một chút gì hơi trắc trở như một cái thắt nút của một sợi tơ tằm óng chuốt. Chuỗi ngân của ông không được đều đặn và không được dài lắm, nhưng nó cũng không vụng, không sượng chai.

Tuy nhiên người nghe có cảm tưởng ông cố tình ngân nga, cố tình nắn nót từng lượn âm ba chớ không phải ông kéo dài làn hơi để cho làn hơi gợn sóng một cách tự nhiên.
Cho nên chuỗi ngân ấy tuy không nổi nét răng cưa, nhưng nó không vẽ lên những né thu ba uyển chuyển dịu dàng; mổi một lượn ngân hơi nhọn, hơi thô rít, không được tự nhiên trơn ngọt lắm.
Song đây là một giọng đẹp và mùi kinh khủng.
Mỗi tiếng trầm của nó như hơ ấm những tâm hồn giá lạnh của một số phụ nữ cô đơn bằng những thóang ấm áp bàng hòang. Lúc đó, nó như sưởi nóng hồng huyết cầu và con tim của họ bằng men rượu bồ đào, bằng khói hương thơm của tách trà.Mỗi tiếng ngang ngang của nó như mơn man da thịt nhạy cảm của họ từng cái vuốt ve ân cần và tình tứ.

Đây là một giọng gợi cảm từ bản chất, không bị cái sướt mướt lố lăng làm ngần đục những cặn bã.
Đôi lúc Sĩ Phú cố tình hát hơi nứt rạn như một thóang nghẹn ngào ở chổ láy thật nhẹ, giọng hát nhờ đó mà thêm nét duyên dáng mặn nồng.
Khi hát,Sĩ Phú có một khuôn mặt trầm tỉnh điểm một nụ cười điềm đạm.
Ông không tỏ vẻ bất cần đời mà cũng không lộ vẻ tha thiết với cuộc đời. Ông như lắng sâu vào cái mầu nhiệm và kỳ ảo của âm thanh, của sóng nhạc. Chính ở điểm này, ông tóat ra một hấp lực đặc biệt, một từ truờng kỳ ảo.